Cao Dai History

NHẠC LỄ ĐẠO CAO ĐÀI GÓP PHẦN VÀO SỰ ĐA DẠNG

TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

 

       Hiến Pháp LỮ VĂN CHÂU

        Ủy viên Ban Thường trực

  Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh đạo

                 Tổng Biên tập Tạp chí Cao Đài

 

I. PHẦN DẪN NHẠC

Việt Nam có khoảng 7.300 di tích văn hóa, lịch sử, kiến trúc khác nhau nằm trải dài ở 63 tỉnh,thành phố đã chứng minh Việt Nam có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời. Đây là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và cũng là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong tiến trình kiến quốc và vệ quốc của nhân dân Việt Nam.

Tìm hiểu di sản văn hóa trong đa dạng tôn giáo ở Việt Nam thông qua nhạc lễ Đạo Cao Đài với hy vọng góp phần làm phong phú cho hội nghị nầy. Di sản văn hóa Việt Nam quả rất phong phú, gồm có di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể; trong đó có di sản là tôn giáo, trong tôn giáo có di sản văn hóa của Đạo Cao Đài. Phạm vi bài viết này, chúng tôi đi sâu vào di sản văn hóa phi vật thể thông qua nhạc lễ của Đạo Cao Đài.

Tại Việt Nam, hiện đã có 5 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản thế giới; trong đó có 3 di sản có liên quan đến lễ nhạc như: Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Quan Họ, Ca trù.

Năm 1644 nhà Mãn-Thanh chiếm Bắc Kinh, các di thần nhà Minh khi chạy tị nạn về phương Nam đã mang theo với họ phong tục tập quán và tôn giáo của người Trung Quốc. Trong các cộng đồng Minh Hương có Ngũ Chi Minh Đạo. Năm chi đạo cùng họ Minh gồm: MINH SƯ, MINH ĐƯỜNG, MINH LÝ, MINH THIỆN và MINH TÂN. Năm chi đạo kể trên đều thờ Tam Giáo, xuất hiện trước Đạo Cao Đài một ít lâu.

Bắt đầu từ 1650 đến 1670, họ di chuyển sang Việt Nam mang theo lời tiên tri của vị sư trưởng phái Minh Sư lúc bấy giờ. Vị sư trưởng nầy qua cơn thiền định mới có lời tiên tri và khuyên các đệ tử mình nên đi sang phía Nam vì ông biết ngày sau phương Nam sẽ có hội Long Hoa và sẽ có một mối đạo lớn xuất hiện mang tên là Cao-Đài. Khi sang Việt Nam, phái Minh Sư lập chùa lập miễu trong khắp miền Nam Việt Nam, và trong suốt 250 năm, trên trang bìa quyển kinh của họ luôn luôn có mang hai câu đối vốn là di bút của người sư trưởng nói trên như sau:

CAO NHƯ BẮC KHUYẾT NHÂN CHIÊM NGƯỠNG

ĐÀI TẠI NAM PHƯƠNG ĐẠO THỐNG TRUYỀN.

A.   BẢN TUYÊN NGÔN ÐỘC LẬP CỦA HOA KỲThomas Jefferson là nhà ngoại giao, nhà lý thuyết chính trị, người sáng lập Ðảng Dân Chủ Hoa Kỳ. Nhưng ông được người Mỹ và thế giới ghi nhớ với chức vụ Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ, và tác giả chính của Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập. Do lòng yêu chuộng Tự Do, ông đã tranh đấu cho nền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, và các tự do dân sự khác. Ông mạnh dạn ủng hộ việc thêm vào Hiến Pháp Hoa Kỳ bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Hoa Kỳ – Bill of Rights.

Ngày nay, công dân Hoa Kỳ nói riêng, công dân trên toàn thế giới nói chung, được thụ hưởng rất nhiều điều tốt lành, phần lớn là do lòng tận tụy của Thomas Jefferson đối với Nhân Quyền – Human Rights. Thomas Jefferson đã hoạch định ra hàng loạt vấn đề của chính quyền mà 37 năm sau, trong bài Diễn Văn Gettysburg, Abraham Lincoln đã mô tả, chính quyền Hoa Kỳ phải là “của Dân, do Dân và vì Dân.”

(“Government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the Earth”. Gettysburg Address Abraham Lincoln.

Câu “IN GOD WE TRUST” in trên mặt sau tờ giấy một đô xác tín rằng Mỹ quốc luôn luôn nhận biết sự hằng hữu của Đấng Tạo Hóa tối cao.

KIM TỰ THÁP CÓ 13 BẬCkim tự tháp là biểu tượng cho “sức mạnh và sự bền bỉ, vững chắc”. Nội dung của luật đề cập về quốc hiệu đã nhấn mạnh phải lập đi lập lại con số 13 trong việc kết hợp khi thực hiện. Số 13 xuất hiện dày đặc: 13 ngôi sao trên đầu đại bàng, 13 tầng kim tự tháp, 13 vạch ngang trên tấm khiên, 13 nhành và 13 quả trên khóm ô liu, 13 mũi tên trong một bó, rồi cả hai dòng chữ La tinh Annuit Coeptis và E Pluribus Unum đều gồm 13 ký tự. Trên hình phía mặt trái của quốc hiệu Mỹ, nhận thấy 13 từng gạch của kim tự tháp đang còn dang dở. Con số 13 cũng là con số của Chúa cùng với 12 tông đồ, con số của Phật với 12 vị đồ đệ, con số của Quetzalcoalt (thượng đế của dân Aztecs) và 12 môn đồ... Tất cả các vị trên cùng với môn đệ của mình đều thành số 13. Trong thời nội chiến Hoa Kỳ, dù liên bang chỉ có 11 tiểu bang, nhưng quốc kỳ Mỹ vẫn có 13 ngôi sao. Tướng George Washington (lúc đó chưa lên làm Tổng thống) và 12 vị tướng dưới quyền đều nằm trong một hội kín (hội Tam Điểm), tổng cộng vẫn 13 người. Đúng giờ tuyên bố độc lập, mặt trời nằm ở vị trí 13 độ trong cung Cancer.
Kim tự tháp còn dang dở chỉ với 13 tầng, có ngụ ý sâu xa hơn là việc nhiều tiểu bang khác sẽ gia nhập. Kim tự tháp tượng trưng cho vật chất, còn Mắt Trời tượng trưng cho tinh thần, tâm linh.

Bước vào cửa chánh Đền Thánh, du khách thấy một tấm vách chắn ngang trên đó có bức họa Tam Thánh thay mặt loài người ký Thiên Nhơn Hoà Ước với Thượng Đế: Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ (NGUYỄN BỈNH KHIÊM) đứng bên phải cầm bút lông viết bốn chữ Hán: BÁC ÁI, CÔNG BÌNH. Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (VICTOR HUGO) đứng bên trái cầm lông chim viết ba chữ Pháp : Amour et Justice  còn Đức Tôn Trung Sơn cầm nghiêng mực.Tam Thánh ký hoà ước và giang tay đón rước nhân loại vào cửa Trời kỳ ba với nội dung:

TRỜI NGƯỜI HỢP NHẤT & THƯƠNG YÊU VÀ CÔNG CHÁNH.

Triết lý : Trời người hiệp nhứt vì trong bản hoà ước có 4 chữ Thiên Thượng, Thiên Hạ (Dieu et Humanité). Trong bản hoà ước ghi rõ: thương yêu và công chánh

LOVE & JUSTICE

Loài người chỉ cần thực hiện hai chữ Thương yêu là sẽ thấy ĐẠI ĐỒNG HUYNH ĐỆ. Đức Hộ Pháp đã trả lời đài phát thanh Pháp Á: “Tâm linh không Tổ quốc, không phân biệt màu da, tôn giáo, đất nước. Tất cả người Cao Đài không bao giờ nghĩ đến những dị đồng về chủng tộc đang chia rẻ nhân loại …. Các Đấng ấy (Tam Thánh) là người đi trước nhất truyền bá nền Tân Đạo.”

(Đại Đạo nguyệt san, bộ mới số 4 ngày 20/6/1953)