Năm 1644 nhà Mãn-Thanh chiếm Bắc Kinh, các di thần nhà Minh khi chạy tị nạn về phương Nam đã mang theo với họ phong tục tập quán và tôn giáo của người Trung Quốc. Trong các cộng đồng Minh Hương có Ngũ Chi Minh Đạo. Năm chi đạo cùng họ Minh gồm: MINH SƯ, MINH ĐƯỜNG, MINH LÝ, MINH THIỆN và MINH TÂN. Năm chi đạo kể trên đều thờ Tam Giáo, xuất hiện trước Đạo Cao Đài một ít lâu.

Bắt đầu từ 1650 đến 1670, họ di chuyển sang Việt Nam mang theo lời tiên tri của vị sư trưởng phái Minh Sư lúc bấy giờ. Vị sư trưởng nầy qua cơn thiền định mới có lời tiên tri và khuyên các đệ tử mình nên đi sang phía Nam vì ông biết ngày sau phương Nam sẽ có hội Long Hoa và sẽ có một mối đạo lớn xuất hiện mang tên là Cao-Đài. Khi sang Việt Nam, phái Minh Sư lập chùa lập miễu trong khắp miền Nam Việt Nam, và trong suốt 250 năm, trên trang bìa quyển kinh của họ luôn luôn có mang hai câu đối vốn là di bút của người sư trưởng nói trên như sau:

CAO NHƯ BẮC KHUYẾT NHÂN CHIÊM NGƯỠNG

ĐÀI TẠI NAM PHƯƠNG ĐẠO THỐNG TRUYỀN.

Buổi đầu thành lập tôn giáo Cao Đài có 5 ngôi chùa quan trọng thuộc Ngũ chi Minh Đạo liên quan tới sự thành lập tôn giáo Cao Đài buổi sơ khai, và chư vị tiền khai được nhắc đến trong sử Đạo:

I.      CHÙA QUAN ÂM Ở PHÚ QUỐC & NGÀI NGÔ VĂN CHIÊU

Description: http://www.thienlybuutoa.org/Books/LSCD1920-1926/anh%20NMChieu.jpg      Description: http://www.thienlybuutoa.org/ThiVan/ThienNhan-03.jpg

Đây là nơi phát tích đầu tiên của Đạo Cao Đài với người đệ tử đầu tiên là Ngài NGÔ VĂN CHIÊU.

Ngài Ngô-Văn-Chiêu, đạo-hiệu Ngô-Minh-Chiêu, thuộc dòng-dõi một Quan Thị-Lang của Triều-Đình Huế, nhân lúc loạn-lạc (1851-1866) gia đình di cư vào Nam, tạm ở Khu Hòa-Hưng, Sài-Gòn. Thân phụ Ngài là Ông Ngô-Văn-Xuân, thân mẫu là Bà Lâm-Thị-Quí. Ngày mùng 7 tháng giêng năm Mậu-Dần (28-2-1878) bà hạ sanh người con duy nhứt tên Ngô-Văn-Chiêu. Ngài ra đời nơi quê mẹ tại Bình-Tây (Chợ-Lớn) trong một căn nhà lá nhỏ, phía sau ngôi chùa Quan-Thánh (còn gọi là Chùa Ông Nhỏ).

*Ngôi chùa Quan-Thánh được xây cất vào năm 1873 ở tại số 1 đường Chùa, bây giờ là số 242 Lê-Quang-Liêm Chợ-Lớn Bình-Tây.

PHU QUỐC:

Làm việc tại Tòa Hành Chánh Hà-Tiên được non 8 tháng thì ngày 26-10-1920, Ngài Ngô-Văn-Chiêu đổi đến làm chủ quận Phú-Quốc và ở đó gần 4 năm (26-10-1920 đến 29-7-1924). Ngài mộ đạo tu-hành đã lâu rồi nên bất luận sách nào kinh nào nói về sự tu-hành đạo-đức hễ gặp thì Ngài xem qua hết; song chẳng gặp đạo nào cho vừa ý Ngài, nên Ngài chưa chịu tu, cứ lo bồi-bổ đức-hạnh. Ngài thường nói Ngài không chịu học Đạo với thầy phàm, quyết chí nếu có thầy Tiên dạy đạo thì mới chịu tu. Ở Phú-Quốc Ngài thường lên núi Dương-Đông cầu Tiên.

Trước nhứt ở Chùa Quan-Âm-Tự thuộc phái Phật-Đường. Ngài cầu Tiên cũng đã nhiều lần.Sau có một vị Tiên-Ông chẳng chịu xưng danh bảo Ngài chịu làm đệ-tử thì sẽ dạy Đạo, và dặn Ngài đừng tụng kinh Minh-Thánh nữa.Về sau nầy, Ngài mới biết Tiên-Ông đó tức là Đức Ngọc-Hoàng Thượng-Đế.

Một bữa kia Tiên-Ông giáng-cơ dạy Ngài phải lo tu và ăn chay thêm cho được 10 ngày trong một tháng. Đàn-cơ mùng 1 Tết Tân-Dậu (8-2-1921), có Ngài chứng đàn tại Quan-Âm-Tự. Ngài chưa kịp bạch hỏi tâm-sự thì Tiên-Ông giáng dạy: CHIÊU, tam-niên trường-trai.
Thấy vậy Ngài rất bối rối vì Ngài chưa chịu ăn chay 10 ngày mà nay Tiên-Ông lại bảo trường chay 3 năm. Ngài mới bạch rằng:

“Bạch Tiên-Ông, Tiên-Ông đã dạy thì đệ-tử phải vâng, song xin Tiên-Ông phải bảo-hộ đệ-tử, chớ trường chay 3 năm lâu quá chẳng biết đệ-tử có chịu nổi hay không và xin Tiên-Ông bảo-lãnh, nếu đệ-tử vưng theo lời dạy thì phải có chứng-quả chi mới được.”

Tiên-Ông bảo cứ giữ theo lời dạy sau đệ-tử sẽ hiểu rõ.Tiên-Ông thường giáng-cơ truyền đạo cho Ngài tu và dặn phải giữ kín bí-truyền chừng nào tới thời-kỳ khai-đạo thì Tiên-Ông sẽ dạy.

Nguyên Chùa Quan-Âm-Tự của Ông Huỳnh-Đăng-Khoa tạo lập với sự chung góp của Ông Đổ-Minh-Châu tục gọi là Ông Cả Bốn. Hai Ông trên qui liễu rồi thì con Ông Cả Bốn là Ông Đổ-Kim-Cự thay thế trông nom. Sau giao lại cho Ông Đổ-Văn-Đồ tục gọi là Ông Tám Gia. Ông nầy có tánh khật khùng nên ăn nói không dè-dặt phải quấy. Ngài hầu cơ và cúng nơi Quan-Âm-Tự cũng 7-8 tháng trời, một hôm, đang lo sửa soạn bông trái cúng thì Ông Tám Gia la lối không kiêng dè lễ độ và không cho cúng tại đó nữa.Ngài hiền lắm cũng hơi buồn vậy thôi, và hối bà con dọn đi xuống chùa dưới là chùa Sùng-Hưng-Tự, nói với Ông Hòa-Thượng mượn chỗ cầu cơ.Từ đó sắp sau là cầu Tiên nơi Chùa Sùng-Hưng, cách Chùa Quan-Âm-Tự cỡ 500 thước.Tuy Ngài chịu làm đệ-tử của Tiên-Ông chớ chưa lập bàn thờ để thờ Tiên-Ông, vì không biết phải thờ làm sao? Một bữa kia Tiên-Ông dạy Ngài phải tạo ra một cái dấu hiệu gì riêng để thờ. Ngài bèn chọn chữ Thập. Tiên-Ông nói chữ Thập cũng được song đó là dấu hiệu riêng của một nền Đạo đã có rồi.Phải suy-nghĩ mà tầm cho ra, có Tiên-Ông giúp sức, Ngài xin huỡn lại một tuần lễ để có ngày giờ suy-nghiệm.Vào buổi sáng ngày 20-4-1921 (13-3 Tân Dậu), vào lúc tám giờ, Ngài Ngô đang ngồi trên võng, phía sau Dinh quận Phú Quốc, nhìn ra biển khơi, chợt thấy trước mặt hiện rõ một con mắt thật lớn, linh động, hào quang chói lọi như mặt Trời, Ngài lấy làm sợ-hãi hết sức, lấy hai tay đậy mắt lại không dám nhìn nữa, đâu độ chừng nửa phút đồng hồ Ngài mở mắt ra thì cũng còn thấy con mắt ấy mà lại càng chói hơn nữa. Ngài bèn chấp tay vái rằng:

“Bạch Tiên-Ông đệ-tử rõ biết cái huyền-diệu của Tiên-Ông rồi, đệ-tử xin Tiên-Ông đừng làm vậy đệ-tử sợ lắm.Như phải Tiên-Ông bảo thờ Thiên-Nhãn thì xin cho biến mất tức thì.”

Vái xong thì con mắt lu lần lần rồi mất. Cách vài ngày sau Ngài cũng thấy y như lần trước nữa. Ngài nguyện sẽ tạo Thiên-Nhãn mà thờ thì con mắt tự nhiên biến mất.