Bước vào cửa chánh Đền Thánh, du khách thấy một tấm vách chắn ngang trên đó có bức họa Tam Thánh thay mặt loài người ký Thiên Nhơn Hoà Ước với Thượng Đế: Đức Thanh Sơn Đạo Sĩ (NGUYỄN BỈNH KHIÊM) đứng bên phải cầm bút lông viết bốn chữ Hán: BÁC ÁI, CÔNG BÌNH. Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (VICTOR HUGO) đứng bên trái cầm lông chim viết ba chữ Pháp : Amour et Justice  còn Đức Tôn Trung Sơn cầm nghiêng mực.Tam Thánh ký hoà ước và giang tay đón rước nhân loại vào cửa Trời kỳ ba với nội dung:

TRỜI NGƯỜI HỢP NHẤT & THƯƠNG YÊU VÀ CÔNG CHÁNH.

Triết lý : Trời người hiệp nhứt vì trong bản hoà ước có 4 chữ Thiên Thượng, Thiên Hạ (Dieu et Humanité). Trong bản hoà ước ghi rõ: thương yêu và công chánh

LOVE & JUSTICE

Loài người chỉ cần thực hiện hai chữ Thương yêu là sẽ thấy ĐẠI ĐỒNG HUYNH ĐỆ. Đức Hộ Pháp đã trả lời đài phát thanh Pháp Á: “Tâm linh không Tổ quốc, không phân biệt màu da, tôn giáo, đất nước. Tất cả người Cao Đài không bao giờ nghĩ đến những dị đồng về chủng tộc đang chia rẻ nhân loại …. Các Đấng ấy (Tam Thánh) là người đi trước nhất truyền bá nền Tân Đạo.”

(Đại Đạo nguyệt san, bộ mới số 4 ngày 20/6/1953)

TÔN TRUNG SƠN (1866-1925)

 TÔN TRUNG SƠN

Tôn Văn là tên húy (孫文), tự là Dật Tiên (逸仙), hiệu là Trung Sơn (中山).

Nguồn gốc về Tam Dân chủ nghĩa có lẽ đã đến với Tôn Văn từ lúc những năm còn trẻ, lúc ở Hoa Kỳ, với câu nói bất hủ của Tổng thống A. Lincoln:  Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quá trình hình thành và phát triển tôn giáo Cao Đài gắn liền với chủ thuyết “Tam dân” và nền tảng Nho giáo.Chủ nghĩa “Tam dân” là gì? Chủ nghĩa “Tam dân” gồm ba phần: chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền, chủ nghĩa dân sinh.

·         CHỦ NGHĨA DÂN TỘC: là đánh đổ “thể chế” Mãn Thanh, giải phóng Trung Quốc, nhưng không trả thù người Mãn mà cùng tồn tại với các dân tộc trong nước và thế giới, bảo vệ nền độc lập văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa thế giới và đi đến thế giới đại đồng .

·         CHỦ NGHĨA DÂN QUYỀN: Trung Quốc phải từ bỏ chế độ quân chủ để lập chế độ dân chủ, vì ba lẽ: dân là gốc của một nước thì tất phải làm chủ, nếu lập quân chủ thì sẽ loạn lạc do có nhiều người muốn làm vua.

·         CHỦ NGHĨA DÂN SINH: tức chăm lo quyền lợi cho dân. Các nhu cầu sống của con người (ăn, mặc, ở và đi lại) là vấn đề cơ bản của dân sinh, đó là chủ nghĩa quốc gia làm sao để người dân được cơm no áo ấm, tự do đi lại và tự do ngôn luận…

Trong bài giảng về DÂN QUYỀN ngày 9/3 năm Dân quốc thứ 13 (1924), ngài TÔN TRUNG SƠN thuyết rằng:

“Từ khi có lịch sử, Trung Quốc chưa hề thực hiện chế độ dân quyền. Ngay trong 13 năm Dân quốc vừa qua cũng chưa thực hiện dân quyền.Lịch sử nước ta đã trải qua hơn 4.000 năm, trong đó có thời thịnh trị, có thời loạn ly, nhưng đều áp dụng chế độ quân quyền. Vậy đối với Trung Quốc, quân quyền có lợi hay có hại? Có thể nói ở Trung Quốc, quân quyền vừa có lợi vừa có hại. Nhưng xét theo sự thông minh tài trí của người Trung Quốc thì so ra dùng dân quyền vẫn thích hợp hơn nhiều. Không Tử nói “Khi cái đạo lớn được thực hiện thì thiên hạ là của chung”. Tức là ông chủ trương một thế giới đại đồng theo chế độ dân quyền. Và Không Tử "Hễ nói là ca tụng Nghiêu và Thuấn", bởi vì Nghiêu và Thuấn không coi thiên hạ là nhà mình. Chính trị Nghiêu và Thuấn tuy về danh nghĩa là dùng quân quyền nhưng thực tế là thực hành dân quyền, vì thế Khổng Tử luôn ngưỡng mộ Nghiêu và Thuấn. Mạnh Tử nói: "Dân là quý nhất, sau đó là xã tắc. Còn Vua thì thường”. Lại nói: "Trời nhìn như dân ta nhìn, trời nghe dân như dân ta nghe", và "Tôi nghe nói đến việc hỏi tội tên bạo chúa Trụ, chứ chưa hề nghe nói đến việc giết vua". Thời đó, Mạnh Tử đã biết các đấng quân vương không nhất thiết là cần, và sẽ không thể trường cửu, vì thế ai đem lại hạnh phúc cho dân thì được ông gọi là "vua sáng", kẻ nào bạo ngược, vô đạo thì bị gọi là "bạo chúa", và mọi người cần chống lại. Từ đó ta thấy cách đây hơn 2.000 năm nhân dân Trung Quốc đã nghĩ tới tư tưởng dân quyền, nhưng không thực hiện được nó.”